Làm giàu không khó

Chào mừng bạn đến với BLOG Kinh doanh online 24/7

Hiển thị các bài đăng có nhãn câu chuyện kinh doanh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn câu chuyện kinh doanh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 31 tháng 7, 2014

Bitcoin một loại tiền mới cho giao dịch qua mạng

Bitcoin một loại tiền mới cho giao dịch qua mạng

Bitcoin (ký hiệu: BTC) là một loại tiền tệ kỹ thuật số phân cấp dựa trên một mã nguồn mở, giao thức internet ngang hàng.[8] Nó được giới thiệu bởi một nhà phát triển tên là Satoshi Nakamoto trong năm 2009.[6]

Trên bình diện quốc tế, bitcoin có thể được trao đổi trực tiếp bằng máy tính cá nhân thông qua một tập tin ví hoặc một trang web mà không cần một tổ chức tài chính trung gian nào.[9] Trong thương mại, 1 Bitcoin được chia thành 100 triệu đơn vị nhỏ hơn gọi là satoshis, được xác định bởi tám chữ số thập phân.[2]

Bitcoin có cách hoạt động khác hẳn so với loại tiền tệ điển hình: không có một ngân hàng trung ương nào quản lý và nó chỉ dựa trên mạng ngang hàng thuộc internet. Sự cung ứng tiền là tự động, hạn chế, phân chia và có dự kiến, và chúng được cấp cho các máy chủ hoặc "Bitcoin miners" nhằm xác minh giao dịch Bitcoin và ghi chúng vào tệp lưu trữ nhật ký giao dịch cứ 10 phút một. Đăng nhập được mã hóa bởi chữ ký số ECDSA và được xác nhận bởi chuỗi các quá trình xử lý brute force các hàm băm SHA256 biến đổi một cách phức tạp bởi "bitcoin miners." Phí giao dịch có thể áp dụng cho giao dịch mới tùy thuộc vào sự giới hạn trên các nguồn tài nguyên của mạng. Cứ 10 phút hoặc một "block" (gói) của nhật ký giao dịch được gán cho một lượng tiền cung ứng. Số tiền cho mỗi gói phụ thuộc vào thời gian hoạt động của mạng lưới. Hiện tại, 25 bitcoin được cấp phát cho mỗi 10 phút - block. Nó sẽ giảm một nửa còn 12,5 BTC trong năm 2017 và tiếp tục giảm một nửa cho 4 năm tiếp sau cho đến khi có 21 triệu bitcoin lưu hành trên thị trường trực tuyến vào năm 2140.[6][10]

Bitcoin là loại tiền thay thế được sử dụng rộng rãi nhất trong thương mại điện tử.[1][11] Đến tháng 11 năm 2013, lượng tiền cơ sở của bitcoin được định giá khoảng 7 tỷ USD.[12][13] Những biến động lớn trong giá trị tương ứng với đồng USD của một Bitcoin đã gợi lên những lời chỉ trích về tính phù hợp kinh tế của Bitcoin như là loại tiền tệ.[14]

Giao dịch

Tích hợp sẵn trong giao thức Bitcoin là lịch sử giao dịch. Tất cả giao dịch mua bán đều được cập nhật trên hệ thống lưu trữ máy tính ngang hàng, được gọi là blockchain - thứ ghi lại số dư của mỗi tài khoản và ghi lại lược sử tất cả tài khoản tham gia giao dịch trước đó.

Ví Bitcoin

Bất kỳ ai sở hữu Bitcoin đều được gán ít nhất một địa chỉ Bitcoin, nơi lưu trữ và ghi nhận trọng "ví". Ví có địa chỉ công khai và địa chỉ riêng tư. Bất kỳ ai cũng có thể gửi Bitcoin đến một chiếc ví bằng địa chỉ công khai, còn địa chỉ riêng tư phải được nhập khi chủ Ví muốn gửi Bitcoin đi. Bảo vệ địa chỉ riêng tư của Ví là rất quan trọng để không bị mất Bitcoin. Ví cho phép người dùng hoàn tất thanh toán giữa các địa chỉ khác nhau bằng cách cập nhập vào blockchain. Ví có rất nhiều dạng: ứng dụng cho thiết bị di động và máy tính, thiết bị phần cứng, và token giấy. Khi thực hiện giao dịch bằng thiết bị di động, người dùng có thể sử dụng mã QR để đơn giản hoá việc quy trình.

Thanh toán

Phí thanh toán bằng Bitcoin rẻ hơn rất nhiều so với thanh toán thẻ tín dụng và chuyển khoản. Chí phí gửi tiền qua Bitcoin thường không phụ thuộc số lượng gửi, giúp cho Bitcoin trở nên rất hấp dẫn với những người muốn gửi tiền số lượng lớn. Ví dụ: lượng Bitcoin trị giá hàng triệu USD có thể gửi đi bất kỳ đâu trên thế giới chỉ với vài cent.

Tính bảo mật

Mặc dù Bitcoin sử dụng các phương pháp mã hoá, việc đó không giúp gì cho việc bảo vệ danh tính cá nhân vì tất cả giao dịch đều được công khai trên blockchain. Tuy nhiên rất khó để xác định địa chỉ Bitcoin nào gắn với người nào. Hiện tại các sàn giao dịch Bitcoin đều bắt buộc phải ghi lại danh tính khách hàng để tránh rửa tiền.

Lịch sử

Bitcoin lần đầu được nhắc đến vào năm 2008 trong một bài đăng về giao thức thanh toán ngang hàng của nhân vật ẩn danh Satoshi Nakamoto.[15] Nó bắt đầu đi vào sử dụng từ 2009.

Năm 2011, giá trị của đồng Bitcoin tăng từ $0.30 lên $32, trước khi rớt trở lại $2.

Bitcoin bắt đầu thu hút dư luận từ 2012, khi có rất nhiều bài báo nhắc đến nó. Năm 2013, một số dịch vụ lớn như OKCupid, Baidu, Reddit, Humble Bundle, Foodler và Gyft bắt đầu sử dụng nó. Tại Canada đã có máy ATM mua bán Bitcoin đầu tiên trên thế giới.

Kinh tế

Hiện tại Bitcoin đang được xem như Vàng 2.0 vì có những tính chất sau của tiền tệ: Đáng giá, lưu thông, dự trữ, thanh toán.

Ngoài ra, khác với những đồng tiền được ban hành bởi chính phủ, Bitcoin có thêm những ưu điểm sau:


  • Không có ngân hàng trung ương: Tránh được tình trạng lạm phát khi ngân hàng trung ương in tiền cho các tổ chức tài chính và các tập đoàn vay khi làm ăn thua lỗ.
  • Không cần giao dịch qua kênh trung gian: Giảm thiểu chi phí ngân hàng và các kênh tài chính trung gian.
  • Không dễ kiếm ra Bitcoin, nhưng có thể "khai thác" được mỏ Bitcoin - đặc tính quan trọng của vàng.
  • Đơn vị tiền tệ có thể chia nhỏ ra tới mức gần như vô hạn, giúp cho việc thanh toán chính xác rất dễ dàng.
  • Ít nguy hiểm cho các cửa hàng chấp nhận giao dịch Bitcoin hơn vì giao dịch không thể bị quay ngược.
  • Bảo vệ môi trường khi không phải in giấy, polymer hay dùng hoá chất khai thác vàng. Hệ thống máy tính phục vụ cho việc xử lý giao dịch Bitcoin tốn ít điện hơn hệ thống tài chính hiện tại.


Đầu tư Bitcoin

Bitcoin thường được giao dịch như một dạng đầu tư. Có một số quỹ đầu tư đã quan tâm đến Bitcoin. Điển hình là Quỹ Peter Thiel đã đổ 3 triệu USD, và anh em nhà Winklevoss đã đầu tư 1.5 triệu USD. Sàn ETF Bitcoin cũng sắp được mở. Sàn giao dịch máy khai thác mỏ Bitcoin lớn nhất hiện nay là CEX.io đang khai thác phương tiện tài chính cao cấp này.

Việc đầu tư Bitcoin, cũng như cách kênh vàng hay ngoại tệ, chứa đựng nguy cơ rủi ro và những lo ngại về một loại bong bóng tài chính [16] trong lĩnh vực tiền tệ trên internet.

Tính hợp pháp

Vì tính chất ẩn danh trong giao dịch, Bitcoin được tội phạm mạng quan tâm. Tuy nhiên, cũng giống như các loại tiền tệ khác, Bitcoin cũng như vàng hay tiền mặt, đều được dùng như vật trung gian để rửa tiền.

Trong phiên điều trần trước Thượng Viện Mỹ về Bitcoin ngày 18 tháng 11 năm 2013, FinCen đã nói rằng: Tiền mặt vẫn là công cụ rửa tiền chính.

Trong cùng ngày, Ben Bernanke đã nêu ra quan điểm rằng giữ Bitcoin về lâu dài mang lại nhiều hứa hẹn: http://www.businessinsider.com/ben-b...itcoin-2013-11

Phần lớn các agencies trong chính phủ Mỹ đã tán thành việc sử dụng Bitcoin. Đơn cử FEC muốn chấp nhận donation qua Bitcoin: http://www.washingtonpost.com/politi...d81_story.html

Tham khảo

^ a b Ron Dorit; Adi Shamir. “Quantitative Analysis of the Full Bitcoin Transaction Graph”. Cryptology ePrint Archive. tr. 17. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2012.
^ a b “Cracking the Bitcoin: Digging Into a $131M USD Virtual Currency”. Daily Tech. 12 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2012.
^ Original BTC symbol, still used by most Bitcoin websites in their "favicon" and logos. Examples: Bitcoin.org, Bitcoin-Qt application icon, Bitcoin Charts, Bitcoin Watch, MtGox (PC graphic)
^ Matonis, Jon (22 tháng 1 năm 2013). “Bitcoin Casinos Release 2012 Earnings”. Forbes. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2013. “Responsible for more than 50% of daily network volume on the Bitcoin blockchain, SatoshiDice reported first year earnings from wagering at an impressive ฿33,310.”
^ “Ƀ – Universal Bitcoin Logo”. Ecogex. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2013.
^ a b c Nakamoto, Satoshi (24 tháng 5 năm 2009). “Bitcoin: A Peer-to-Peer Electronic Cash System”. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2012.
^ “Bitter to Better — How to Make Bitcoin a Better Currency”. University of California. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2013.
^ Thorsteinson, Katherine (8 tháng 1 năm 2013). “Bitcoins: A Decentralized Digital Currency”. Arbitrage Magazine. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2013. “Can you imagine a totally decentralised digital currency? Welcome to the world of Bitcoins. In the spirit of anonymity upheld by this new currency, its 2009 invention has been attributed to the pseudonym Satoshi Nakamoto. But to whom this might be or to how many people this may include is entirely unknown.”
^ Hough, Jack (3 tháng 6 năm 2011). “The Currency That's Up 200,000%”. SmartMoney (Dow Jones & Company). Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2013.
^ Wallace, Benjamin (23 tháng 11 năm 2011). “The Rise and Fall of Bitcoin”. Wired. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2012.
^ “Bitcoin Value”. Bloomberg. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2013.
^ “Market Capitalization”. Blockchain.info. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2012.
^ “Mt.Gox data”. Bitcoincharts.
^ Krugman, Paul. “Golden Cyberfetters”. New York Times. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2013.
^ “Bên trong nơi làm ra Bitcoin lớn nhất Hong Kong”. vnexpress.net. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2013.
^ Cuong Chu. “Cẩn thận với bong bóng Bitcoin”. BitcoinViet.com. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2013.

Nguồn: wikimedia

Thứ Ba, 22 tháng 7, 2014

Câu chuyện Pablo & Bruno và đường ống dẫn nước



Một câu truyện ngắn, một clip chỉ 6 phút nhưng đã làm thay đổi tư duy của rất nhiều người, thay đổi cuộc sống của họ.

Câu chuyện kể về 2 người thanh niên sống cùng một làng, và luôn có khát khao làm giàu. Cùng một công việc nhưng mỗi người có 1 cách làm việc khác nhau, vì thế cuộc đời của họ cũng khác nhau hoàn toàn....
Câu chuyện muốn nói lên một tư duy của một người thành công
Mời các bạn cùng xem

Ở một ngôi làng nhỏ có hai người bạn tên là Bruno & Pablo, họ thường trao đổi với nhau để làm sao trở thành những người thành đạt nhất trong làng.

Và rồi một ngày cơ hội đã đến với họ...

Thứ Hai, 21 tháng 7, 2014

Lời dặn dò của cha dành cho con gái

Một người không tốt với con, con không nên quá bận tâm. Trong cuộc sống của con, không ai phải có nghĩa vụ đối tốt với con trừ cha mẹ. Còn với những người tốt với con, con nên trân trọng và biết ơn điều đó. Nhưng con cũng cần phải có chút đề phòng bởi mỗi người khi làm bất cứ việc gì đều có mục đích riêng. Hãy nhớ, họ tốt với con không đồng nghĩa với việc họ phải quý mến con.
Không có ai là không thể thay thế, không có vật gì thuộc hoàn toàn sở hữu của con. Vì thế, nếu sau này người con yêu thương không còn ở bên, hay họ không còn là nơi con có thể đặt niềm tin, con cũng đừng bi lụy. Sinh mệnh con người thực sự ngắn ngủi, con đừng để mỗi ngày trôi đi vô ích. Người ta tham vọng sống lâu nhưng con chỉ cần sống hạnh phúc mỗi ngày. Hãy trân trong và yêu lấy cuộc sống hiện tại của con.
Trên đời này không có gì là nhất cả, tình yêu chỉ là cảm giác bất chợt đi qua cuộc đời con, nhưng nó sẽ theo thời gian và lòng người mà thay đổi. Nếu như người đó rời xa con, con hãy học cách chờ đợi. Hãy để thời gian rửa sạch vết thương, để tâm hồn con lắng lại rồi nỗi đau của con cũng sẽ dần biến mất. Con đừng mơ ước một tình yêu hoàn hảo, cũng đừng thổi phồng nỗi đau khi nó không còn.
Có những người thành đạt mà không cần trải qua nhiều trường lớp, nhưng điều đó không có nghĩa con thôi nỗ lực học tập. Kiến thức con học được chính là vũ khí con cần có, hãy nhớ người ta không thể làm gì nếu họ chỉ có tay không.
cha va con gai Lời dặn dò của cha dành cho con gái
Con không nhất thiết phải chăm sóc cha nửa cuộc đời còn lại và cha cũng thế. Khi trưởng thành, con có thể tự mình bước đi, trách nhiệm của cha cũng đã kết thúc. Sau này dù con hạnh phúc hay buồn đau, con đều phải tự mình lựa chọn và có trách nhiệm với nó.
Con có thể bắt mình phải giữ chữ tín, nhưng không thể yêu cầu người khác làm thế với mình. Con có thể yêu cầu bản thân phải đối đãi tốt với người, nhưng con không thể kì vọng người ta sẽ làm ngược lại. Khi con tốt với họ, họ không có nghĩa vụ phải tốt lại với con. Hãy nhớ điều này nếu không con sẽ luôn gặp ưu phiền trong cuộc sống.
Cha đã mua vé số trong 26 năm thế nhưng chưa một lần trúng, điều đó nói lên rằng muốn giàu có phải dựa vào nỗ lực làm việc của bản thân, trên đời này không có bữa ăn nào là miễn phí cả.
Chỉ những ai có duyên phận mới trở thành người thân của nhau,cho dù trong cuộc sống bận rộn con ít khi gặp mọi người, nhưng con hãy trân trọng từng khoảnh khắc khi còn bên họ, hãy dành cho họ thời gian để yêu thương con hơn, và hãy gọi điện cho mẹ con.

Thứ Ba, 21 tháng 5, 2013

Bạn sẽ làm gì để kiếm được tiền khi tất cả những gì bạn có chỉ là 5 đô la và 2 giờ đồng hồ?


“Bạn sẽ làm gì để kiếm được tiền khi tất cả những gì bạn có chỉ là 5 đô la và 2 giờ đồng hồ? Đây là 1 bài tập tôi giao cho sinh viên ở một trong số các lớp học tôi phụ trách tại trường Đại Học Stanford. Có 14 nhóm thực hiện và mỗi nhóm được nhận 1 phong bì có 5 đô la tượng trưng cho “hạt giống tài chính” của mình. Trước hết họ có thể dành bao nhiêu thời gian tùy ý cho việc lập kế hoạch. Tuy nhiên, 1 khi đã mở bao thư thì mỗi nhóm đều chỉ có 2 giờ đồng hồ để có thể kiếm được càng nhiều tiền càng tốt. Thời hạn để hoàn thành bài tập này là từ chiều thứ 4 đến tối chủ nhật. Sau đó, vào tối chủ nhật, mỗi nhóm phải gửi cho tôi 1 văn bản kể về những gì họ đã làm, và đến thứ 2 thì mỗi nhóm có 3 phút để trình bày dự án của mình với cả lớp. Từ bài tập này, bằng việc tìm kiếm các cơ hội, thách thức những quan niệm truyền thống, biết tận dụng và phân bố những nguồn lực có hạn và sức sáng tạo của mình, các sinh viên của tôi đã có được nguồn cảm hứng  về việc khởi nghiệp kinh doanh.
Các bạn sẽ làm gì nếu nhận được thách thức này? Khi tôi hỏi hầu hết các nhóm thực hiện, thường sẽ có người la lên: “Đi Las Vegas!” hoặc “Mua vé số”. Chúng tạo ra những trận cười lớn trong lớp. Nếu ai đó thực hiện những gợi ý này thì chắc chắn sẽ có rủi ro nhiều hơn là nhận được 1 phần thưởng lớn vì cơ hội thắng rất hiếm hoi. Còn những đề xuất phổ biến tiếp theo là mở 1 tiệm rửa xe hoặc 1 quầy bán nước bằng việc sử dụng khoản tiền 5 đô la để trang bị những vật dụng thiết yếu. Đây là 1 lựa chọn tốt cho những ai muốn kiếm 1 vài đồng lời từ 5 đô la có sẵn trong 2 giờ đồng hồ. Nhưng hầu hết các sinh viên của tôi cuối cùng đều tìm ra những hướng đi vượt xa các giải pháp thông thường. Họ đã thách thức các giả định truyền thống để mở ra 1 chân trời rộng lớn những điều khả thi, nhằm tạo ra càng nhiều giá trị càng tốt.
Họ đã làm được điều này như thế nào? Theo quan sát của tôi, những nhóm kiếm được nhiều tiền nhất thực chất chẳng cần dùng đến 5 đô la cho trước. Họ nhận ra rằng tập trung vào tiền làm cho vấn đề trở nên chật hẹp. Họ hiểu rằng về bản chất 5 đô la không là gì cả, nên họ quyết định tiếp cận vấn đề ở khía cạnh rộng hơn: Chúng ta có thể làm gì để kiếm tiền nếu chúng ta bắt đầu bằng 2 bàn tay trắng? Họ tăng cường khả năng quan sát của mình, tận dụng những tài năng sẵn có, và mở rộng cửa cho sự sáng tạo để nhận ra những vấn đề bên trong mình. Đó là những vấn đề họ đã trải qua hoặc thấy người khác gặp phải, là những vấn đề họ có thể gặp trước đó nhưng chưa từng nghĩ cách để giải quyết. Những vấn đề này ở đâu đó quanh ta nhưng không phải ai cũng nhận thấy chúng. Bằng việc đưa những vấn đề này ra ánh sáng và tìm cách giải quyết chúng, nhóm chiến thắng đã thu được hơn 600 đô la, với 1 suất sinh lời trên vốn đầu tư(ROI) lên đến 4.000 phần trăm! Nếu bạn để ý rằng rất nhiều nhóm đã thực sự không dùng đồng quỹ nào cả, thì bạn sẽ nhận ra nguồn thu tài chính của họ là vô tận.
Vậy họ đã làm gì? Tất cả các nhóm đều rất sáng tạo. Một nhóm đã nhận ra 1 vấn đề rất phổ biến ở nhiều làng đại học – người ta phải xếp hàng dài không dễ chịu chút nào ở các nhà hàng nổi tiếng vào tối thứ 7. Nhóm này quyết định giúp những người không muốn xếp hàng đợi đến lượt mình. Họ cặp đôi và đặt chỗ trước ở một số nhà hàng, sau đó họ bán mỗi chỗ với giá lên tới 20 đô la cho những khách hàng sẵn lòng mua để không cần phải đợi trong hàng dài.
Trong suốt đêm thực hiện dự án ở nhà hàng thì nhóm này lại quan sát thấy được 1 số chi tiết thú vị khác. Trước hết, họ nhận ra rằng các sinh viên nữ bán được chỗ đặt trước giỏi hơn sinh viên nam, có lẽ vì khách hàng cảm thấy dễ chịu hơn khi tiếp xúc với những cô gái trẻ. Vì thế họ điều chỉnh kế hoạch cho các sinh viên nam đi vòng quanh đặt chỗ trước ở nhiều nhà hàng khác nhau, còn các sinh viên nữ thì tìm các khách hàng để bán những chỗ đó. Họ cũng nhận thấy rằng cả quá trình thực hiện có hiệu quả tốt nhất ở những nhà hàng phát máy nhắn tin báo rung để cho khách hàng biết khi nào bàn ăn sẵn sàng. Việc trực tiếp trao đổi máy nhắn tin làm cho khách hàng cảm thấy như thể họ đang bỏ tiền ra để nhận được thứ gì đó hữu hình. Họ cảm thấy dễ chịu hơn khi đưa tiền và máy nhắn tin của họ để đổi lấy chiếc máy nhắn tin mới. Điều này còn có 1 lợi ích khác – sau đó nhóm có thể bán những chiếc máy nhắn tin mới có được khi gần đến thời điểm đặt chỗ của chúng.
Một đội khác tiếp cận vấn đề ở 1 khía cạnh còn đơn giản hơn. Họ mở 1 tiệm sửa xe cung cấp dịch vụ kiểm tra áp suất lốp xe đạp miễn phí trước khu vực hội sinh viên. Nếu cần họ sẽ bơm bánh xe với giá 1 đô la. Ban đầu nhóm này nghĩ rằng họ đang lợi dụng các bạn sinh viên, trong khi họ có thể dễ dàng đến 1 trạm xăng gần đó để bơm xe miễn phí. Nhưng sau khi cung cấp dịch vụ này cho 1 vài khách hàng đầu tiên, nhóm thực hiện dự án nhận ra rằng những khách hàng của họ thật sự rất biết ơn. Họ nhanh chóng hiểu ra rằng mình đang cung cấp 1 dịch vụ tiện dụng và có ích, mặc dù công việc thực chất rất đơn giản với nhóm sinh viên, và ngay cả khi các khách hàng đi xe đạp của họ có thể đến trạm xăng ngay gần đó để bơm xe miễn phí. Sau 1 giờ đồng hồ, nhóm này nảy ra ý tưởng yêu cầu khách hàng đóng góp tình nguyện thay vì phải trả 1 giá nhất định cho dịch vụ. Từ đó doanh thu của nhóm không ngừng tăng lên. Họ nhận được nhiều tiền hơn khi các khách hàng có cảm giác biết ơn và đền đáp cho 1 dịch vụ miễn phí chứ không nghĩ mình bị buộc phải trả tiền cho dịch vụ đó. Đối với nhóm sinh viên này, cũng như với nhóm cung cấp chỗ đặt trước ở nhà hàng, việc thử nghiệm các ý tưởng có được từ những gì họ quan sát thấy trong suốt quá tình thực hiện dự án đã đem lại kết quả tốt đẹp. Tiến trình thực hiện kế hoạch linh hoạt cũng những thay đổi liên tục dựa trên thông tin phản hồi từ phía khách hàng đã cho phép các nhóm sinh viên này tối ưu hóa chiến lược của mình một cách nhanh chóng.
Mỗi dự án đó đã mang lại vài trăm đô la cho các nhóm thực hiện cũng như gây ấn tượng rất mạnh mẽ cho các bạn bè cùng lớp của họ. Tuy nhiên, tạo ra lợi nhuận cao nhất (650 đô la) là một nhóm xem xét nguồn lực có sẵn của mình dưới các góc độ hoàn toàn khác. Các sinh viên này xác định rằng tài sản có giá trị nhất của họ không phải là 5 đô la hay 2 giờ đồng hồ. Thay vào đó, họ cho rằng nguồn tài nguyên quý giá nhất của mình là bài thuyết trình dài 3 phút vào ngày thứ Hai. Họ quyết định bán nó cho 1 công ty muốn tuyển dụng các sinh viên trong lớp. Nhóm này thực hiện 1 đoạn quảng cáo dài 3 phút cho công ty đó, và vào buổi thuyết trình họ chiếu cho các sinh viên cùng lớp xem. Ý tưởng này thật xuất sắc. Họ đã nhận ra mình có 1 tài sản vô cùng quý giá chờ đợi được khai phá, khi mà những người khác chưa bao giờ để ý đến.
Mười một nhóm còn lại cũng tìm ra những cách thông minh để kiếm tiền. Trong số đó có những việc như mở quầy chụp ảnh ở Dạ hội Vienne hàng năm, bán những bản đồ có đánh dấu địa điểm các nhà hàng địa phương trong Ngày cuối tuần dành cho các bậc Cha Mẹ, và bán áo thun thiết kế theo ý khách hàng cho các sinh viên trong lớp. Một nhóm đã mất tiền khi họ mua dù để bán ở San Francisco trong 1 ngày mưa, nhưng tiếc thay trời lại tạnh mưa ngay sau khi họ vừa khởi động chiến lược của mình. Và, tất nhiên, một nhóm đã thực hiện kế hoạch rửa xe hơi và một nhóm khác thì mở 1 quầy nước giải khát, nhưng doanh thu của họ lại thấp hơn nhiều so với mức trung bình.
Tôi xem “Thử thách 5 đô la” là một thành công trong việc dạy cho sinh viên về tư duy khởi nghiệp kinh doanh. Tuy vậy tôi vẫn có cảm giác không thoải mái lắm. Tôi không muốn truyền đạt về giá trị chỉ với ý nghĩa là những gì người ta đạt được về mặt tài chính. Vì thế, tôi đã thay đổi 1 chút khi giao bài tập này cho sinh viên lần nữa. Thay cho 5 đô la, tôi đưa cho mỗi nhóm 1 phong bì có 10 cái kẹp giấy. Trong vòng vài ngày tới các nhóm có 4 giờ để tạo ra càng nhiều “giá trị” càng tốt bằng việc sử dụng những cái kẹp giấy. Ở đây giá trị sẽ được đong đếm theo bất cứ cách nào họ muốn. Tôi lấy nguồn cảm hứng cho bài tập này từ câu chuyện của Kyle MacDonald, người bắt đầu từ 1 chiếc kẹp giấy màu đỏ và buôn bán trao đổi cho đến khi ông có được 1 căn nhà. Ông đã xây dựng 1 nhật ký trên mạng (blog) để ghi lại tiến độ dự án cũng như để thúc đẩy việc kinh doanh của mình. Và theo từng bước 1 ông đã thực hiện được mục tiêu của mình sau 1 năm. Ông bán chiếc kẹp giấy màu đỏ để đổi lấy 1 cây bút hình con cá. Sau đó ông bán cây bút để lấy 1 cái tay nắm cửa, rồi bán chiếc tay nắm cửa để lấy 1 cái lò Coleman, và cứ tiếp tục như thế. Trị giá của các vật dụng đó tăng dần 1 cách chậm rãi nhưng chắc chắn sau 1 năm, và ông đã có căn nhà mơ ước của mình. Thấy được những gì Kyle đã làm chỉ với 1 chiếc kẹp giấy, tôi cảm thấy khá rộng lượng khi cho các học trò của mình đến 10 chiếc kẹp giấy. Bài tập bắt đầu tiến hành vào 1 buổi sáng thứ Năm và đến thứ Ba tuần kế tiếp là đến hạn cho các nhóm thuyết trình dự án của mình.
Tuy nhiên đến ngày thứ Bảy, tôi bắt đầu cảm thấy lo lắng rằng có lẽ lần này mình đã đi hơi xa. Tôi lo bài tập này có thể bị phá sản và đã chuẩn bị rút ra kinh nghiệm từ một thất bại. Nhưng mối lo này đã không thể nào lớn hơn mục tiêu tôi muốn các sinh viên đạt được. Bảy nhóm thực hiện dự án đều chọn những cách khác nhau để đo lường “giá trị”. Một nhóm quyết định chọn kẹp giấy là 1 đồng tiền mới và đi tìm kiếm để thu lượm được càng nhiều kẹp giấy càng tốt. Một nhóm khác tìm hiểu được kỷ lục về sợi dây kẹp giấy dài nhất thế giới là 22 dặm, và họ lập kế hoạch để phá vỡ kỷ lục đó. Họ tập hợp bạn bè và các bạn cùng phòng, tìm mua kẹp giấy ở khắp nơi, và sau đó họ trưng bày trong lớp 1 núi kẹp giấy nối vào với nhau. Chắc hẳn các sinh viên trong ký túc xá rất hào hứng với thử thách này, nên họ đã đồng lòng cùng nhau thực hiện kế hoạch phá vỡ kỷ lục thế giới đó ngay cả khi bài tập đã kết thúc. (Tôi khá chắc chắn rằng họ đã không phá vỡ được kỷ lục, nhưng đó cũng là 1 cách đánh giá tốt về nguồn sinh khí lớn nhóm sinh viên đó tạo ra).
Gây hào hứng và thú vị nhất là 1 nhóm mang đến cho lớp 1 đoạn phim ngắn với bài hát Những chàng trai tồi tệ làm rộn ràng cả khán phòng. Đoạn phim quay cảnh bọn họ sử dụng các cây kẹp giấy để phá ổ khóa và đột nhập vào các phòng kí túc xá để trộm tổng cộng hàng chục ngàn đô la gồm vật dụng như kính râm, điện thoại di động và máy vi tính. Chỉ ngay trước khi tôi muốn ngất xỉu, nhóm sinh viên mới cho cả lớp biết rằng họ chỉ đùa thôi, và họ chiếu 1 đoạn phim khác về những gì họ đã thực sự làm. Họ bán những chiếc kẹp giấy để lấy tấm bảng dán áp phích quảng cáo. Sau đó họ dựng 1 sạp nhỏ ở trung tâm thương mại gần đó với 1 tấm bảng ghi: “Bán sinh viên Stanford: mua một, tặng hai”. Và họ thật sự kinh ngạc về những đơn hàng mình nhận được. Họ khởi đầu bằng việc mang những túi xách cho khách hàng, kế đến là thu gom những vật dụng tái chế của 1 cửa hàng quần áo, và cuối cùng còn thực hiện 1 buổi động não bất đắc dĩ giúp giải quyết vấn đề công việc cho 1 người phụ nữ. Và cô ấy trả công cho họ bằng 3 chiếc màn hình máy tính mà cô ấy không dùng đến.
Những năm sau đó tôi vẫn tiếp tục giao các bài tập tương tự cho các nhóm học trò của mình, và thay đổi những vật dụng ban đầu: từ kẹp giấy đến các tờ giấy ghi chú Post-it, hay các dây cao su hoặc các chai nước. Lần nào các sinh viên cũng làm tôi và chính bản thân họ ngạc nhiên về những gì mình đã đạt được trong khoảng thời gian và nguồn lực có hạn. Chẳng hạn, họ đã sử dụng 1 thùng nhỏ giấy ghi chú để tạo ra 1 dự án âm nhạc cộng đồng, một chiến dịch giáo dục mọi người về bệnh tim, và 1 đoạn phim quảng cáo dịch vụ công cộng có tên là Unplug-it về việc tiết kiệm năng lượng. Bài tập này cuối cùng đã biến thành 1 cuộc thi sáng tạo (Innovation Tournament) thu hút hàng trăm đội chơi đến từ khắp nơi trên thế giới. Trong mỗi trường hợp, người chơi xem cuộc thi như 1 cách tiếp cận thế giới xung quanh ở những góc nhìn hoàn toàn mới và tìm kiếm các cơ hội ở ngay quanh mình. Họ biết thách thức những quan niệm truyền thống, và nhờ vậy họ đã thu được những giá trị thật sự to lớn từ khởi đầu là không gì cả. Toàn bộ cuộc phiêu lưu với những tấm giấy ghi chú đã được dựng thành phim và làm nền tảng cho 1 bộ phim tài liệu thực thụ mang tên Hãy tưởng tượng (Imagine It).
Những bài tập kể trên đã nhấn mạnh nhiều điều dường như trái ngược với những gì người ta thường nghĩ.
Thứ nhất là cơ hội luôn có rất nhiều trong cuộc sống. Ở bất kỳ thời điểm nào và bất cứ nơi đâu bạn cũng có thể nhìn quanh và tìm ra các vấn đề cần được giải quyết. Có những vấn đề bình thường, như giành được chỗ ở 1 nhà hàng nổi tiếng hay bơm bánh xe đạp. Còn nhiều thứ khác, như chúng ta đều biết, thì lớn hơn nhiều và có thể liên quan đến những vấn đề toàn cầu. Là người đồng sáng lập Sun Microsystems và cũng là một nhà cấp vốn kinh doanh mạo hiểm rất thành công, ông Vinod Khosla đã khẳng định rõ rằng: “Nếu vấn đề càng lớn thì cơ hội cũng càng lớn. Sẽ chẳng ai trả cho bạn đồng nào cho việc giải quyết 1 vấn đề chẳng đáng gì cả”.
Thứ hai, dù vấn đề lớn hay nhỏ thế nào đi chăng nữa, thì vẫn có những cách thức sáng tạo để giải quyết vấn đề bằng việc sử dụng những nguồn lực có sẵn của bạn. Rất nhiều đồng nghiệp của tôi định nghĩa việc kinh doanh như thế này: 1 doanh nhân là người luôn tìm kiếm và xem xét những vấn đề có thể biến thành cơ hội, đồng thời tìm ra những cách sáng tạo để vận dụng các nguồn lực có hạn của mình nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Hầu hết mọi người đều tiếp cận vấn đề như thể chúng không bao giờ giải quyết được, nên họ không thấy được những giải pháp sáng tạo ngay trước mắt mình.
Thứ ba, chúng ta thường đóng khung các vấn đề một cách quá cứng nhắc. Khi nhận được 1 thử thách đơn giản, như kiếm tiền trong 2 giờ đồng hồ chẳng hạn, người ta hầu như đều nhanh chóng phản ứng theo những cách thông thường. Họ không dừng lại và xem xét vấn đề ở những khía cạnh rộng hơn. Khi thoát khỏi những suy nghĩ chật hẹp thông thường, bạn sẽ thấy 1 thế giới rộng lớn với những cơ hội được mở ra trước mắt mình. Các sinh viên tham gia vào những dự án kể trên đã thuộc lòng bài học này. Về sau có rất nhiều người quả quyết rằng họ sẽ không bao giờ biện minh cho việc trở nên túng thiếu của mình, vì luôn luôn có 1 vấn đề ngay gần đó đang chờ được giải quyết.
Những bài tập này xuất phát từ một khóa học tôi dạy về việc lập nghiệp kinh doanh và sáng tạo ở Đại Học Stanford. Mục tiêu tổng quát của khóa học là nhằm chứng minh rằng mọi vấn đề đều có thể được xem là những cơ hội chờ được giải quyết bằng những giải pháp sáng tạo.